Bối cảnh

80 năm qua, Đảng và Nhà nước luôn coi giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Nhiều chủ trương, chính sách lớn đã được ban hành, thúc đẩy giáo dục và đào tạo đổi mới, phát triển mạnh mẽ, đạt được những kết quả quan trọng.

Các nghị quyết, văn bản của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII và Nghị quyết số 29-NQ/TW, đã chỉ rõ: Phát triển giáo dục đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; phát triển nguồn nhân lực là một trong ba đột phá chiến lược phát triển; đào tạo nhân lực có tay nghề cao có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; phát triển giáo dục nghề nghiệp là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài, có vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội; đầu tư cho giáo dục đào tạo chính là đầu tư cho phát triển.

“Giáo dục và đào tạo 80 năm qua đã phát triển theo hướng vừa kế thừa truyền thống, vừa hội nhập quốc tế, tạo bản sắc và giá trị riêng của Việt Nam”, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn nói.

Từ một xứ thuộc địa với 95% dân số mù chữ đến một quốc gia độc lập, từ chia cắt đến thống nhất, từ bị cô lập đến trở thành đối tác chiến lược toàn diện của các lớn mạnh, với những thành tựu khá toàn diện, đến nay, Việt Nam thuộc nhóm 21 quốc gia sớm đạt mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc đến năm 2030 về giáo dục chất lượng.

Tuy nhiên, giáo dục và đào tạo vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế, chưa thực sự trở thành động lực then chốt cho sự phát triển bứt phá của đất nước. Có nhiều nguyên nhân khác nhau, song đáng chú ý là do chưa nhận thức và thực hiện đầy đủ, quyết liệt quan điểm về giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu”, là “sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân”; tư duy về quản lý và phát triển giáo dục chậm đổi mới; nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn thấp, phân bổ và sử dụng chưa hiệu quả; chế độ, chính sách đối với nhà giáo còn bất cập; tiêu cực trong xã hội ảnh hưởng nhiều đến giáo dục trong và ngoài nhà trường…

Trong khi đó, thế giới đang có những thay đổi sâu sắc, toàn diện từng giờ, từng phút, đặc biệt công nghệ số và trí tuệ nhân tạo AI đang tái định hình giáo dục trên phạm vi toàn cầu. Giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành nhân tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Điều đó buộc phải xác định lại tầm nhìn, thiết lập chiến lược mới cho hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia.

Đột phá

Trước những yêu cầu cấp bách đó, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 71 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần xây dựng thế hệ con người Việt Nam mới có lòng yêu nước và tự hào dân tộc, đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, trình độ, sức khỏe để đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc hướng tới 2 mục tiêu 100 năm.

“Đối với Nghị quyết 71: Xác định rõ giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, động lực then chốt để phát triển đất nước. Đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư, bồi đắp, nâng cao “nguyên khí quốc gia”, chính là đầu tư cho tương lai của dân tộc. Đây là lĩnh vực then chốt của mọi then chốt, là động lực căn cơ của tăng năng suất, bứt phá năng lực cạnh tranh quốc gia, nuôi dưỡng khát vọng phát triển”, Tổng Bí thư Tô Lâm quán triệt.


Quan điểm chỉ đạo từ Nghị quyết 71

1. Nhận thức sâu sắc, đầy đủ và thực hiện nhất quán quan điểm giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc. Phát triển giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Nhà nước giữ vai trò định hướng chiến lược, kiến tạo phát triển, bảo đảm nguồn lực và công bằng trong giáo dục; bảo đảm đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên đáp ứng nhu cầu học tập của người dân. Toàn xã hội có trách nhiệm chăm lo, tham gia đóng góp nguồn lực và giám sát phát triển giáo dục.
2. Phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, xây dựng xã hội học tập, khơi dậy mạnh mẽ các phong trào thi đua trong Nhân dân và trong toàn xã hội về học tập, tự học tập, học tập không ngừng, học tập suốt đời vì sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước, vì tương lai của dân tộc.
3. Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục, đào tạo. Người học là trung tâm, là chủ thể của quá trình giáo dục và đào tạo; nhà trường là nền tảng, nhà giáo là động lực, quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo. Thực hiện phương châm “thầy ra thầy, trò ra trò” trên các mặt đạo đức, nhân cách, tri thức; kiên quyết chấn chỉnh tiêu cực trong giáo dục, coi trọng danh dự người thầy, tôn vinh người thầy trong xã hội.

Giáo dục bảo đảm hài hòa giữa tính toàn dân và tinh hoa, toàn diện và chuyên sâu, dân tộc và toàn cầu. Phát triển giáo dục trên nền tảng văn hóa, giá trị truyền thống dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa nhân loại, chuẩn mực quốc tế; giáo dục, đào tạo công dân Việt Nam trở thành công dân toàn cầu.
4. Giáo dục, đào tạo phải bảo đảm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, “nhà trường gắn liền với xã hội”. Giáo dục mầm non, phổ thông là nền tảng hình thành nhân cách, phát triển phẩm chất và năng lực người học. Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng lao động kỹ năng cao. Giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
5. Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo phải bắt đầu từ đổi mới tư duy, nhận thức và thể chế. Tạo đột phá về nguồn lực, động lực và không gian mới cho phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng; bảo đảm Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, lấy đầu tư công dẫn dắt, thu hút nguồn lực xã hội cho hiện đại hóa toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân.
6. Giáo dục công lập là trụ cột, giáo dục ngoài công lập là thành phần quan trọng cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân; xây dựng nền giáo dục mở, liên thông, bảo đảm cơ hội học tập công bằng, bình đẳng cho mọi người, đáp ứng nhu cầu xã hội, thúc đẩy học tập suốt đời.

Nghị quyết 71 đặt ra nhiều mục tiêu lớn, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vấn đề phát triển nguồn nhân lực tương ứng 2 mục tiêu 100 năm: đến năm 2030 xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học, công nghệ trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh cốt lõi của đất nước, góp phần đưa Việt Nam thành nước phát triển, có thu nhập cao.

Hành động

Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 71, Chính phủ đã khẩn trương ban hành Chương trình hành động với 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, cụ thể hóa thành 36 mục tiêu và 151 nhiệm vụ.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, ngay trong năm 2025, sẽ triển khai thực hiện các nhiệm vụ như rà soát, đánh giá việc triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông để điều chỉnh phù hợp; xây dựng lộ trình và triển khai ngay chế độ lương, phụ cấp cho nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân viên ngành giáo dục; rà soát, sắp xếp, tái cấu trúc các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, sáp nhập, giải thể các cơ sở đào tạo không đạt chuẩn; sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về thực hiện chủ trương không tổ chức hội đồng trường trong các cơ sở giáo dục công lập; quyết liệt triển khai đầu tư xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại 248 xã biên giới đất liền, trước mắt thí điểm đầu tư hoàn thành xây mới, cải tạo 100 trường…

“Nghị quyết 71 có ý nghĩa mở đầu, định hướng cho một cuộc cách mạng mới trong giáo dục. Nghị quyết 71 thể hiện tầm nhìn xa rộng, tính hành động và tính thực tiễn cao”, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn phát biểu trong lễ khai giảng lịch sử, hôm 5/9.

Theo người đứng đầu Bộ Giáo dục và Đào tạo, toàn ngành sẽ triển khai ngay việc thể chế hóa những quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 71; trình Quốc hội thông qua 3 luật, Nghị quyết về cơ chế chính sách đặc biệt để thực hiện Nghị quyết 71, Nghị quyết về Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục.

Nghị quyết 71 kỳ vọng sẽ đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, sánh vai với các cường quốc năm châu, như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh – người thầy vĩ đại, nhà giáo dục lớn – trong Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (9/1945): “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Nghị quyết 72:
Bảo vệ, chăm sóc vốn quý nhất của nhân dân

◀

1

Thời cơ Vàng: Mệnh lệnh từ tương lai dân tộc

2

Nghị quyết 68 – Kinh tế tư nhân: Động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia

3

Nghị quyết 57: Khoa học, công nghệ là con đường “sống còn”

4

Nghị quyết 66: Xây dựng và thực thi pháp luật – đột phá của đột phá

5

Nghị quyết 59: Sức mạnh dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại

6

Nghị quyết 70: Năng lượng phải đi trước một bước

7

Nghị quyết 71: Vì nguyên khí quốc gia, vì tương lai dân tộc

8

Nghị quyết 72: Bảo vệ, chăm sóc vốn quý nhất của nhân dân

9

TP.HCM tiên phong thực hiện 7 trụ cột nghị quyết Vàng