
Bối cảnh
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 55-NQ/TW, ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngành năng lượng đã duy trì tăng trưởng ổn định, cơ bản bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cho phát triển nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh đất nước và nâng cao đời sống người dân.

Tuy vậy, ngành năng lượng vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa được khắc phục triệt để. Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, báo cáo đến hết năm 2024, trong 11 chỉ tiêu của Nghị quyết 55, đến năm 2030 chỉ có 3 chỉ tiêu có khả năng đạt, 6 chỉ tiêu khó đạt và 2 chỉ tiêu chưa đủ cơ sở đánh giá.
Thể chế, chính sách, công tác quản lý phát triển ngành năng lượng còn bất cập. Tiến độ thực hiện nhiều dự án điện còn chậm; tiềm năng về năng lượng chưa được khai thác hiệu quả. Nguồn cung năng lượng còn phụ thuộc vào nhập khẩu, nguy cơ thiếu điện cho giai đoạn tăng trưởng hai con số là hiện hữu. Cơ sở hạ tầng ngành năng lượng còn thiếu và chưa đồng bộ. Hệ thống điện phát triển chưa đồng bộ, thông minh. Công nghệ trong một số lĩnh vực chậm được đổi mới. Chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động trong một số lĩnh vực còn thấp. Thị trường năng lượng cạnh tranh phát triển chưa đồng bộ. Cính sách giá năng lượng còn bất cập, chưa thực sự phù hợp với cơ chế thị trường; vẫn còn tình trạng bù chéo giá điện đối với một số nhóm khách hàng.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên đến từ nhiều nguyên nhân, như: Nhận thức chưa đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của ngành năng lượng đối với phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Chính sách, pháp luật còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp. Chiến lược phát triển năng lượng, đặc biệt trong ngành điện chưa ổn định, đồng bộ; chưa gắn kết chặt chẽ với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và một số ngành liên quan. Công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện chưa quyết liệt, toàn diện, đồng bộ; công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chưa hiệu quả. Chưa tạo được đột phá về ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong ngành năng lượng.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời gian tới, nhất là thực hiện 2 mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và năm 2045, công tác bảo đảm an ninh năng lượng có vai trò rất quan trọng, năng lượng phải đi trước một bước, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân.

Chính vì vậy, “việc ban hành Nghị quyết 70 với những chủ trương, chính sách đồng bộ, đột phá để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nêu rõ.




Đột phá
Nghị quyết 70 đề ra tư duy chiến lược bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới – một vấn đề an ninh phi truyền thống mới. Nghị quyết xác định rõ an ninh năng lượng là một bộ phận trọng yếu của an ninh quốc gia, gắn trực tiếp với ổn định chính trị, phát triển kinh tế, quốc phòng – an ninh và hội nhập quốc tế.
Theo Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, Nghị quyết 70 đánh dấu bước chuyển từ quan niệm “bảo đảm cung ứng” sang “bảo đảm vững chắc và chủ động an ninh năng lượng” với tầm nhìn chiến lược, dài hạn, đa chiều.
Nghị quyết 70 đề ra những mục tiêu cụ thể, được lượng hóa rõ ràng và sát với thực tế để bảo đảm thực hiện đáp ứng yêu cầu, đúng tiến độ.
Về các nhóm mục tiêu đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu vừa đủ cung ứng – hiện đại hóa hệ thống điện – đẩy mạnh năng lượng tái tạo – bảo đảm cung ứng đủ xăng dầu và LNG – nâng cao hiệu quả và giảm phát thải.
Tầm nhìn đến năm 2045, theo Nghị quyết 70, ngành năng lượng Việt Nam hướng tới phát triển bền vững, thông minh, cạnh tranh, hiện đại ngang tầm thế giới.
Nghị quyết 70: Quan điểm chỉ đạo
| 1. Đảng lãnh đạo toàn diện; Nhà nước kiến tạo thể chế, chính sách đột phá và kiểm soát hạ tầng năng lượng chiến lược; người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể phát triển năng lượng quốc gia, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, khu vực tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất. Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, là tiền đề quan trọng để phát triển đất nước, là bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Phát triển năng lượng được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới, thực hiện hai mục tiêu 100 năm của đất nước. Quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia phải được lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện tập trung, thống nhất, đồng bộ, nghiêm túc, hiệu quả. |
| 2. Phát triển năng lượng phải phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thực hiện an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và linh hoạt trong thực hiện cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính. Xây dựng thị trường năng lượng đồng bộ, cạnh tranh, minh bạch, đa dạng hóa hình thức sở hữu và phương thức kinh doanh; áp dụng giá thị trường đối với mọi loại hình năng lượng, không bù chéo giữa các nhóm khách hàng. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế, nhất là khu vực tư nhân tham gia phát triển năng lượng; bảo đảm kinh tế tư nhân cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong phát triển các dự án năng lượng. |
| 3. Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hóa các loại hình năng lượng; ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch; khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng hóa thạch trong nước, chú trọng bình ổn, điều tiết và bảo đảm dự trữ năng lượng quốc gia; phát triển điện hạt nhân, điện khí; có lộ trình giảm tỉ trọng điện than một cách hợp lý. Cơ cấu tối ưu hệ thống năng lượng quốc gia, bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả, phát huy lợi thế so sánh của từng vùng và địa phương. |
| 4. Khuyến khích đầu tư và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm phát thải, bảo vệ môi trường, thúc đẩy tăng năng suất lao động và đổi mới mô hình tăng trưởng, coi đây vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của toàn xã hội; khuyến khích đầu tư và sử dụng công nghệ, trang thiết bị tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường. |
| 5. Ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững ngành năng lượng; từng bước làm chủ công nghệ hiện đại, công nghệ năng lượng nguyên tử, tiến tới tự chủ sản xuất được phần lớn các thiết bị năng lượng phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu cả về công nghệ và thiết bị. |




Hành động
Nghị quyết 70 xác định 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.


Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, trong các nhiệm vụ, giải pháp, cần tập trung 10 nhóm trọng điểm:
(1) Cân bằng cung – cầu theo vùng, cập nhật quy hoạch đồng bộ nguồn – lưới, chốt danh mục dự án then chốt.
(2) Đầu tư mạnh mẽ truyền tải và lưu trữ – nhất là các tuyến 500kV, lưới điện thông minh, thí điểm hệ thống lưu trữ năng lượng tại các nút nghẽn.
(3) Huy động vốn đa dạng: đối tác công – tư, trái phiếu xanh, hợp đồng mua bán điện với phân bổ rủi ro hợp lý; áp dụng cơ chế thanh toán theo công suất khả dụng cho các nguồn linh hoạt.
(4) Phát triển thị trường điện cạnh tranh theo lộ trình, chuẩn hóa cơ chế giá tham chiếu dài hạn, nâng cao minh bạch.
(5) Đa dạng hóa nhiên liệu và dự phòng LNG, đảm bảo năng lực kho, tuyến ống, hợp đồng dài hạn, dự phòng than/khí chiến lược.
(6) Thúc đẩy hiệu quả năng lượng và quản lý nhu cầu, áp dụng giá theo thời gian sử dụng, yêu cầu tiết kiệm bắt buộc ở phụ tải lớn.
(7) Phát triển năng lượng tái tạo theo “tư duy hệ thống”: đấu thầu cạnh tranh, quy hoạch đồng bộ nguồn – lưới – lưu trữ, chia sẻ chi phí đấu nối công bằng.
(8) Bảo vệ nhóm dân cư dễ bị tổn thương và bảo đảm điện cho công nghiệp nền tảng thông qua các gói hỗ trợ mục tiêu, có thời hạn, minh bạch nguồn bù.
(9) Chuyển đổi số ngành điện: đo xa, dữ liệu thời gian thực, dự báo phụ tải bằng trí tuệ nhân tạo, bảo đảm an ninh mạng.
(10) Phát triển nhân lực và nội địa hóa: đào tạo kỹ sư hệ thống, công nghiệp phụ trợ.

