
Bối cảnh
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng luôn nhận thức sâu sắc vai trò của thể chế, pháp luật đối với sự phát triển đất nước, có chủ trương, chính sách hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.
Trên cơ sở đó, công tác xây dựng và thi hành pháp luật không ngừng nâng cao hiệu quả, đạt nhiều kết quả quan trọng. Tư duy, nhận thức lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không ngừng được hoàn thiện.

Theo Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, đến nay, hệ thống pháp luật Việt Nam đã hình thành tương đối đồng bộ, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận, cơ bản điều chỉnh tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Quốc hội đã ban hành 213 luật, bộ luật đang có hiệu lực pháp luật, Chính phủ, Thủ tướng đã ban hành hàng nghìn nghị định, quyết định, các bộ, ngành đã ban hành nhiều thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật được nâng lên. Quy trình xây dựng pháp luật ngày càng chặt chẽ, khoa học. Công tác tổ chức thi hành pháp luật có những chuyển biến tích cực.

Tất cả tạo nền tảng pháp lý để phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.
Song, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng thẳng thắn nhìn nhận tồn tại, hạn chế, bất cập: Một số chủ trương, định hướng của Đảng chưa được thể chế hóa kịp thời, đầy đủ. Tư duy xây dựng pháp luật một số lĩnh vực còn thiên về quản lý. Chất lượng pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, cản trở việc thực thi. Phân cấp, phân quyền chưa đủ mạnh. Thủ tục hành chính còn rườm rà, “nhiều khúc quanh”. Tổ chức thực thi pháp luật vẫn là khâu yếu. Thiếu cơ chế phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả. Chưa tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi để thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới…
Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao dựa trên nền tảng thể chế pháp luật chất lượng cao. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước, tận dụng mọi cơ hội phát triển, do đó, trở thành yếu tố sống còn.

Nghị quyết 66 – nghị quyết chuyên đề đặc biệt quan trọng với nhiều quyết sách chiến lược về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đã ra đời. Qua đó, thể hiện rõ quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh, hiện đại, hiệu lực và hiệu quả trong kỷ nguyên mới.





Đột phá
Nghị quyết 66 do Bộ Chính trị ban hành đánh dấu thay đổi căn bản trong tư duy lập pháp. Thay vì xem pháp luật đơn thuần là công cụ quản lý nhà nước, công cụ điều chỉnh hành vi xã hội, Nghị quyết đã nâng tầm, xem pháp luật là cơ sở tổ chức, vận hành quyền lực Nhà nước, là nền tảng vững chắc để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, là công cụ kiến tạo phát triển, thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo, đòn bẩy cho phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia trên trường quốc tế.

Pháp luật phải đồng bộ, khả thi, minh bạch, ổn định, lấy thực tiễn phát triển làm thước đo, đồng thời có tính dự báo cao, chủ động dẫn dắt sự phát triển chứ không chỉ chạy theo điều chỉnh.
Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Bộ Chính trị khẳng định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” với Nghị quyết 66 cho thấy một bước chuyển nhận thức chiến lược trong cải cách thể chế.
Thể chế pháp luật giờ đây là động lực, là nền tảng cho phát triển đất nước, góp phần đánh thức mọi tiềm năng, thế mạnh nắm bắt mọi cơ hội đi lên.

Với yêu cầu đó, tinh thần cải cách được Nghị quyết 66 đặt ra là: Đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật: chuyển từ tư duy “quản lý” sang “phục vụ”, từ bị động sang chủ động, kiến tạo sự phát triển.
Xây dựng pháp luật phải đi trước một bước, bảo đảm tính dự báo cao, phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của sự phát triển nhanh chóng.

Thi hành pháp luật phải nghiêm minh, công bằng, thực chất, chuyển đổi số phải gắn liền với công khai, minh bạch, thuận tiện hóa tối đa cho người dân và doanh nghiệp.
Phân cấp, phân quyền rõ ràng, gắn với trách nhiệm giải trình, xóa bỏ cơ chế “xin – cho”, triệt tiêu các lợi ích cục bộ và đặc quyền nhóm.





Trên bước đường thực hiện mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết 66 chỉ rõ: Năm 2025, cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật. Năm 2027, hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền 3 cấp. Năm 2028, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh, góp phần đưa môi trường đầu tư của Việt Nam nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.
“Thể chế, pháp luật có chất lượng, phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn và nguyện vọng của Nhân dân là yếu tố hàng đầu quyết định thành công của mỗi quốc gia. Do đó, để đất nước vươn mình phát triển mạnh mẽ, chúng ta dứt khoát nói “không” với bất cứ hạn chế, bất cập nào trong thể chế, pháp luật; không thỏa hiệp với bất kỳ yếu kém nào trong thiết kế chính sách, soạn thảo pháp luật, hay tổ chức thực thi”, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định.


Hành động
Với Nghị quyết 66, cải cách thể chế giờ đây là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, không thể “khoán trắng” cho riêng cơ quan lập pháp hay hành pháp. Để đạt được các mục tiêu đột phá mà Nghị quyết 66 đề ra, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu mỗi cơ quan, mỗi cá nhân phải biến quyết tâm thành hành động cụ thể, thực chất.
Bằng Nghị quyết 197/2025/QH15, Quốc hội đã kịp thời thể chế hóa các quyết sách của Nghị quyết 66, tháo gỡ những vướng mắc, bất cập về cơ chế tài chính, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao cũng như đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, chuyển đổi số trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật.




Như các đại biểu Quốc hội, chuyên gia khẳng định, hoàn thiện pháp luật không chưa đủ, mà quyết định, chính là nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.
Một trong những “nút thắt lớn” hiện nay là người dân và doanh nghiệp phải đối mặt nhiều rào cản về thủ tục hành chính, cơ chế xin – cho dễ phát sinh nhũng nhiễu, tiêu cực, làm tăng chi phí phi chính thức, “méo mó” môi trường kinh doanh, mất tính minh bạch và công bằng.
Văn phòng Chính phủ ước tính, tổng chi phí thủ tục hành chính hàng năm mà người dân, doanh nghiệp phải thực hiện liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh lên đến 120.000 tỷ đồng/năm.
Theo yêu cầu của Chính phủ, trong năm 2025, các bộ, ngành, địa phương phải tập trung rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo cắt giảm tối thiểu 30% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính; 30% điều kiện kinh doanh và 30% thời gian giải quyết thủ tục hành chính.
Chỉ khi mạnh mẽ tháo gỡ rào cản thủ tục hành chính, thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng về cắt giảm, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, mới có cơ hội đột phá, đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong dài hạn.
“Không có gì thiết thực hơn là lắng nghe từ chính người dân, doanh nghiệp, những đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của pháp luật để nhận biết những vướng mắc bất cập nhằm hoàn thiện pháp luật và đưa hệ thống pháp luật đáp ứng được yêu cầu thực tiễn cuộc sống”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh.

