
Từ mùa xuân 1930 có Đảng soi đường, đến thắng lợi mùa thu của Cách mạng tháng Tám 1945, trải qua hành trình 80 năm độc lập – tự do – hạnh phúc, 40 năm đổi mới toàn diện, Việt Nam hôm nay đang sải bước tiến vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, sự đồng lòng của toàn dân tộc và nỗ lực bền bỉ của cả hệ thống chính trị, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng tự hào trên hầu khắp lĩnh vực. Đất nước “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Từ bệ phóng đó, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang hướng đến hiện thực hóa 2 mục tiêu chiến lược 100 năm mà Đảng và Nhà nước đề ra.



Tự hào với những gì đạt được, song cũng phải thẳng thắn, nghiêm túc, khách quan nhìn nhận: phía trước còn gay gắt nhiều thách thức, sức ép nội tại và ngoại tại đan xen, đòi hỏi không được chủ quan, không được chậm trễ, không được phép ngừng lại công cuộc đổi mới, cải cách toàn diện, sâu rộng, đồng bộ.
Thể chế là nguồn lực, động lực cho sự phát triển. Kể từ Hội nghị Trung ương X khóa XIII (9/2024) đến nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã và đang tiến hành khối lượng công việc thực hiện “một năm bằng nhiều năm”, đúng tinh thần “nói đi đôi với làm”, tập trung giải quyết nhiều vấn đề cốt lõi về thể chế, kiến tạo không gian phát triển mới cho đất nước.
Đó chính là mệnh lệnh từ tương lai dân tộc.
Bộ Chính trị đã ban hành “bộ tứ trụ cột” nghị quyết mang tính đột phá, kiến tạo thể chế phát triển, đưa đất nước “cất cánh”. Đó là các Nghị quyết số 57, 59, 66, và 68; tập trung vào các lĩnh vực then chốt để phát triển bền vững đất nước gồm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, xây dựng và thi hành pháp luật, và phát triển kinh tế tư nhân.


Sau đó, chỉ trong thời gian ngắn chưa đầy một tháng, Bộ Chính trị liên tiếp ban hành 3 nghị quyết chuyên đề tiếp nối và bổ sung mạnh mẽ cho “bộ tứ trụ cột” nghị quyết”, đó là Nghị quyết 70, 71, 72 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, và tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.


7 nghị quyết kể trên do Bộ Chính trị ban hành có ý nghĩa chiến lược toàn diện, phạm vi bao trùm trên hầu khắp các lĩnh vực then chốt, được thiết kế đồng bộ để khơi thông mọi nguồn lực, thể hiện tư duy đổi mới, tầm nhìn dài hạn và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng. Tất cả tạo nên một chỉnh thể thống nhất, mũi đột phá để hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm, đưa đất nước vươn mình phát triển phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.
Nhân dân cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài theo dõi, đồng tình, ủng hộ, xem đây thực sự là cuộc cách mạng của đất nước trong kỷ nguyên mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực trong xã hội, trong nhân dân.
Theo Tổng Bí thư, tinh thần xuyên suốt, điểm đột phá chung của các nghị quyết là chuyển nhanh từ “ban hành chủ trương” sang “quản trị thực thi”, từ “quản lý” sang “phục vụ”, từ “bảo hộ” sang “cạnh tranh sáng tạo”, từ “hội nhập bị động” sang “hội nhập chủ động”, từ “cải cách phân tán” sang “đột phá toàn diện, đồng bộ và sâu sắc”, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo. 7 nghị quyết chính là minh chứng cụ thể hóa sinh động quan điểm “lấy dân làm gốc”, xem Nhân dân vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của mọi nghị quyết, mọi chính sách phát triển.
Chuyển động thời đại toàn cầu:
cơ hội – thách thức và hành động
Thế giới hiện đứng trước những thay đổi mang tính thời đại với diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, không dễ dự báo về địa chính trị, địa kinh tế, về cạnh tranh chiến lược, về sự dịch chuyển mạnh mẽ của các trung tâm kinh tế. Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo đang bùng nổ, mở ra không gian phát triển vô tận dựa trên tri thức và tiềm năng con người. Hàng loạt thách thức về biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, an ninh truyền thống và phi truyền thống… được đặt ra.
Những chuyển động này đang định hình lại mọi khía cạnh của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; vừa tạo thách thức, vừa tạo cơ hội cho tất cả các quốc gia.
Việt Nam tất yếu không thể đứng ngoài chuyển động của thời đại toàn cầu.
Đất nước đã đạt những thành tựu to lớn, có thể nói là vĩ đại, mang ý nghĩa lịch sử trên hành trình xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa. Song, vẫn còn đó những hạn chế, tồn tại, bất cập, “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, “nút thắt của nút thắt”.
Đứng trước những chuyển biến sâu sắc chưa từng có của thời đại, trên phạm vi toàn cầu, Đảng nhận định, phải nắm được cơ hội, vượt qua thách thức để đi đến thành công.

4 trụ cột – 3 chuyên đề:
7 nghị quyết liên kết hữu cơ thành thể thống nhất
Bộ tứ trụ cột Nghị quyết tập trung đổi mới, cải cách trên “bốn đột phá”: Nghị quyết 66 yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật minh bạch, hiện đại, bảo đảm quyền con người và quyền công dân. Nghị quyết 57 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trụ cột tăng trưởng mới. Nghị quyết 59 mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế chủ động, tích cực. Nghị quyết 68 thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực trung tâm cho nền kinh tế.
Sự liên kết này không chỉ mang tính định hướng chung mà còn thể hiện rõ sự phụ thuộc lẫn nhau trong thực tiễn. Nếu thể chế không minh bạch, thì kinh tế tư nhân khó phát triển, khoa học công nghệ thiếu môi trường sáng tạo và hội nhập quốc tế thiếu hiệu quả. Ngược lại, nếu đổi mới sáng tạo không đột phá, kinh tế tư nhân sẽ yếu, hội nhập quốc tế sẽ bị hạn chế. Nếu hội nhập không chủ động, bản thân thể chế và các động lực trong nước cũng khó cải cách toàn diện.


Hợp lực với bộ tứ trụ cột, ba nghị quyết chuyên đề tiếp nối hình thành mối liên hệ biện chứng, bổ trợ lẫn nhau: Năng lượng ổn định và xanh là điều kiện cần cho sản xuất, cho trường học, bệnh viện. Giáo dục – đào tạo chất lượng cao cung cấp đội ngũ kỹ sư hệ thống, bác sĩ, nhà quản trị dịch vụ công tương lai. Y tế hiện đại, dự phòng vững, chăm sóc tốt giúp người dân khỏe mạnh để học, để làm, để sáng tạo.
“Những trụ đỡ này được củng cố đồng thời bằng thể chế thông suốt, kỷ luật thực thi nghiêm, dữ liệu dẫn dắt và phân bổ nguồn lực thông minh. Khi từng bánh răng vận hành đúng nhịp, cỗ máy phát triển quốc gia sẽ tăng tốc bền bỉ”, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định.
Về tổ chức thực hiện, tất cả Nghị quyết đều nhấn mạnh vai trò lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự vào cuộc đồng bộ, sáng tạo của cả hệ thống chính trị, cùng sự tham gia thực chất của doanh nghiệp, người dân và giới trí thức. Các trục triển khai như thi hành pháp luật, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển tư nhân và hội nhập quốc tế đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, kiểm tra, giám sát thường xuyên và đánh giá hiệu quả.
Chính các mối liên kết hữu cơ giữa 7 nghị quyết hình thành nên “bản thiết kế” chiến lược toàn diện cho kỷ nguyên phát triển mới của Việt Nam. Đưa 7 trụ cột nghị quyết vào cuộc sống sẽ tạo ra những đột phá mang tính chất lan tỏa, góp phần thực hiện, hoàn thành tốt các nhiệm vụ khác nhau, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. “Muốn đạt hiệu quả cao nhất thì chúng ta phải triển khai tốt đồng thời các nghị quyết này”, Tổng Bí thư Tô Lâm quán triệt.


“Biết đồng sức, biết đồng lòng / Việc gì khó, làm cũng xong”. Dẫn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Tô Lâm kêu gọi toàn hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân chung sức, đồng lòng, bắt tay ngay vào việc với tinh thần “nói đi đôi với làm”, “việc hôm nay không để ngày mai”, vượt qua mọi khó khăn, biến khát vọng thành hành động, biến tiềm năng thành sức mạnh thực tế, để cùng nhau đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phát triển, thịnh vượng, hùng cường của dân tộc Việt Nam.
Nghị quyết 68 – Kinh tế tư nhân:
Động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia








